Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Não điều chỉnh cực khoái như thế nào?

Mặc dù dưới bất kỳ hình thức nào thì hành vi tính giao cũng rất đa dạng và phức tạp, song đạt đến điểm cực khoái là mục tiêu quyết định. Bởi vì cơ thể chúng ta không ai giống ai, do đó đạt đến điểm cực khoái thường không mấy khả thi. Và rằng nhiều người trong chúng ta vẫn hay úp mở khi nói rằng sự cực khoái là một kinh nghiệm khó quên, rất mạnh mẽ và vô cùng thú vị. Nhưng "điểm cực khoái" là gì vậy? Chuyện gì xảy ra trong quá trình "chạm đỉnh"?

Não điều chỉnh cực khoái như thế nào? 1Ảnh minh họa nguồn google.

Từ điển Oxford của Anh định nghĩa sự cực khoái là "một chuyển động bất ngờ, một sự co thắt, hoặc co giật, một kích thích làm tăng ham muốn tình dục". Học giả Merriam-Webster thì mô tả về sự cực khoái như là "sự bùng nổ căng thẳng thần kinh ở đỉnh cao của hình thái kích thích tình dục thường đi kèm với hiện tượng xuất tinh ở nam giới và các cơn đau co thắt âm đạo ở nữ giới".

 

Nhà nghiên cứu tình dục nổi tiếng, TS. Alfred Kinsey từng nói rằng, sự khoái cảm "có thể được ví như sự chạm đỉnh, hoặc sự tĩnh lặng bất ngờ đạt được bởi một dàn giao hưởng các cảm xúc của con người... một sự bùng nổ các căng thẳng, và có thể khiến hắt hơi". Liệu chuyện gì sẽ xảy ra cho cơ thể trong suốt quá trình diễn ra hiện tượng cực khoái và không có gì đáng phải ngạc nhiên khi chúng ta biết rằng não đóng vai trò then chốt trong việc điều khiển sự cực khoái. Mặt khác, các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu chuyện gì xảy ra trong suốt quá trình "chạm đỉnh". Dưới đây là những phân tích tường tận về hiện tượng đặc biệt trong xúc cảm con người.

Khoái cảm và thần kinh

Nếu không có các dây thần kinh chuyển các xung động đến tủy sống và não thì hiện tượng cực khoái sẽ không bao giờ xảy ra. Giống như bất kỳ các khu vực khác của cơ thể, cơ quan sinh dục chứa các dây thần kinh khác nhau chuyển các thông tin tới não, để báo với não về những cảm xúc đang xảy ra. Điều này giải thích lý do tại sao các cảm xúc lại rất khác nhau tùy thuộc vào việc người này tiếp xúc đến cơ thể người kia.

 

Ví dụ, sự cực khoái âm vật lại rất khác với cực khoái âm đạo do bởi sự khác nhau của các dây thần kinh liên quan. Tất cả bộ phận sinh dục đều chứa các đầu dây thần kinh (âm vật chứa đến hơn 8.000 đầu dây thần kinh) lần lượt kết nối với các dây thần kinh lớn chạy xuyên qua cơ thể đến dây cột sống (trường hợp ngoại lệ là dây thần kinh phế vị lại đi qua tủy sống). Chúng thực hiện nhiều chức năng khác nhau trong cơ thể, phản hồi thông tin đến não trong suốt quá trình kích thích tình dục. Có các dây thần kinh tương ứng với các bộ phận cơ thể như sau:

Não điều chỉnh cực khoái như thế nào? 2Hình ảnh biểu lộ các dây thần kinh cảm xúc chạy đến não bộ.

Dây thần kinh hạ vị: truyền từ tử cung và cổ tử cung phụ nữ và từ tuyến tiền liệt ở nam giới.

Dây thần kinh vùng chậu: truyền từ âm đạo và cổ tử cung phụ nữ và từ trực tràng ở cả hai giới.

Dây thần kinh âm hộ: truyền từ âm vật phụ nữ và từ bìu và dương vật ở nam giới.

Dây thần kinh phế vị: truyền từ tử cung, cổ tử cung và âm đạo phụ nữ.

Vai trò của dây thần kinh phế vị trong cực khoái là một phát hiện khá mới mẻ và vẫn còn nhiều điều chưa biết rõ về nó; cho đến gần đây, các nhà nghiên cứu vẫn không biết rằng dây thần kinh phế vị đi qua vùng chậu ở cả nam và nữ giới. Vì hầu hết những dây thần kinh này đều có liên quan đến cột sống, đó là lý do vì sao người bị tổn thương cột sống sẽ không bao giờ đạt đến "điểm cực khoái". TS. Barry Komisaruk và TS. Beverly Whipple từ Trường đại học ở New Jersey (Mỹ) đã tiến hành cuộc nghiên cứu về những người phụ nữ bị tổn thương tủy sống vào năm 2004.

 

Hai người khám phá ra rằng những người phụ nữ này đã nhận được những kích thích từ tử cung của họ và thậm chí có thể đạt đến cực khoái, mặc dù não của họ không nhận được các thông tin từ dây thần kinh hạ vị hoặc dây thần kinh vùng chậu. Thông qua công nghệ chụp cộng hưởng từ (MRI), các nhà nghiên cứu đã khám phá ra não những phụ nữ này phản ứng với các tín hiệu hoạt động của các dây thần kinh phế vị. Bởi vì phế vị đi qua tủy sống, do đó các phụ nữ vẫn cảm nhận được kích thích từ cổ tử cung. Vì thế trong suốt quá trình diễn ra kích thích tình dục và cực khoái, những khu vực khác nhau của não đã nhận tất cả các thông tin này cho phép nó biết chính xác về những gì đang xảy ra.

 

Nguyễn Thanh Hải

(Theo Science)

 

Cực khoái có hoàn toàn “khoái”?Cực khoái có hoàn toàn “khoái”?Giải mã những bí ẩn về cực khoái nữ Giải mã những bí ẩn về cực khoái nữ Đau đầu vì đạt cực khoáiĐau đầu vì đạt cực khoái

 

Nội tiết tố sinh dục, nhựa sống của tình yêu

Trong y học phương Đông, người ta lấy con số 7 trong dãy số tự nhiên để tính “thiên quý” của nữ giới. Vì nữ giới thuộc âm, sinh trưởng dựa theo số 7 (số thiếu dương) và nam giới sinh trưởng dựa theo số 8 (số thiếu âm) để tính. Cứ theo đó, lấy số 7, số 8, lần lượt nhân gấp đôi, gấp 3, gấp 4… lần sẽ thấy được nấc thang của từng thời gian hưng thịnh và suy giảm của các nội tiết tố sinh dục (hormon sinh dục) của từng giới.

Theo cách tính này, tuổi 14 (7 x 2) là thiên quý đến với người con gái, xuất hiện  kinh nguyệt lần đầu tiên trong đời, nhiều khi còn sớm hơn một chút. Trong khi nam giới phải đến tuổi 16 (8 x 2) thì thận khí mới vượng thịnh, thiên quý mới đến, mới bắt đầu vào cái tuổi dậy thì, đôi khi có thể sớm hơn một chút. Vì thế, người xưa có câu “nữ thập tam, nam thập lục” (nữ 13, nam 16). Các bậc cha mẹ cũng cần quan tâm đến điều này trong  việc giáo dục giới tính cho con em mình. Sau con số 2, đến các con số 3, số 4,… mà nhân lên với số 7, 8. Nữ giới vào tuổi 21 - 28, nam giới vào độ tuổi 24 -  32, gân xương bền chắc, thân thế khỏe mạnh, lượng hormon sinh dục đã chín muồi. Điều đó càng làm cho cuộc sống đôi lứa thêm gắn bó, hạnh phúc hơn. Từ con số 5, 6,… mà nhân với 7, 8 trở đi, nội tiết tố sinh dục ở mỗi giới đều có sự suy giảm, tóc bắt đầu rụng, da bắt đầu khô, nám...

Nội tiết tố sinh dục, nhựa sống của tình yêu 1 Cây ba kích.

Phép màu để giữ lửa tình yêu

Sự căng thẳng, vất vả trong cuộc sống thường nhật sẽ không đợi cho nam hay nữ phải chờ đến con số 5 hay 6 mới suy giảm hormon sinh dục mà chu trình đó có thể đến sớm hơn nhiều. Vì thế sự lạc quan, yêu đời vẫn là liều thuốc quý giá nhất để duy trì cuộc sống hạnh phúc cho mọi người, mọi gia đình. Ngoài ra, xung quanh ta có nhiều cây, con là những vị thuốc quý, giúp duy trì và làm mạnh mẽ thêm hormon sinh dục - nhựa sống của tình yêu cho cả hai giới. Sau đây xin giới thiệu một số vị thuốc điển hình:

Nhân sâm: là vị thuốc có tác dụng bền tinh, mạnh khí, ích trí, an thần, bổ khí huyết, tăng sức dẻo dai cho cả nam và nữ. Ngày dùng từ 4-10g nhân sâm thái lát mỏng hãm uống đun cách thủy, trấp lên mặt nồi cơm. Hoặc nhân sâm thái lát mỏng ngâm rượu (100g/lít rượu 35-400). Ngâm 3-4 tuần là có thể dùng được, mỗi lần uống 20 - 40ml trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ.

Tắc kè: có thể nấu cháo hoặc ngâm rượu. Khi ngâm rượu, thường dùng 1 đôi. Chặt bỏ bàn chân và phần đầu từ mắt trở lên, ngâm rượu với tỷ lệ 100g/lít rượu (nếu tươi dùng rượu 700, khô dùng rượu 35 - 400). Để tăng tác dụng bổ dương của tắc kè, song song ngâm riêng một bình rượu gồm: ba kích, dâm dương hoắc, hà thủ ô đỏ (chế), mỗi vị 50g, trần bì 20g, trong 1 lít rượu 350. Có thể ngâm 2 - 3 lần, những lần sau thời gian và lượng rượu giảm một nửa. Gộp tất cả dịch của các lần ngâm lại (khoảng 2-3 lần) rồi pha. Tỷ lệ rượu tắc kè và rượu thuốc tốt nhất là 1:1. Cách sử dụng và liều lượng tương tự như rượu ba kích. Chị em không biết uống rượu có thể dùng bột tắc kè khô ngày 5- 9g, uống với nước hãm gừng tươi.

Hải mã cũng là vị thuốc có thể sử dụng để “giữ lửa” cho cả hai giới nam và nữ. Thường được dùng khô (một con đực, một con cái). Cách ngâm rượu tương tự như rượu tắc kè, cách dùng và liều dùng tương tự như rượu nhân sâm hay ba kích.

Lưu ý: Không nên lạm dụng các loại rượu bổ dương này để uống quá nhiều trong bữa ăn.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Bài thuốc chữa vô sinh do biến chứng quai bị

Normal0falsefalsefalseMicrosoftInternetExplorer4

Đây là bài thuốc của bác sĩ Nguyễn Phú Lâm, Chủ tịch Hội Đông y huyện Mang Thít, Vĩnh Long, điều trị cho những ca teo tinh hoàn do biến chứng quai bị. Với bài thuốc này, nhiều trường hợp vô sinh nam đã có con, khi tinh trùng trở nên đầy đủ và khỏe mạnh.

Biến  chứng viêm, teo tinh hoàn là một biến chừng thường gặp ở bé trai tuổi dậy thì. Trong trường hợp này, khả năng sinh tinh của người bệnh có thể bị kém, số lượng tinh trùng nhiều trường hợp bằng không.

Những bài thuốc

Theo Đông y, khi đàn ông mất khả năng hoặc khả năng sinh tinh yếu, thiếu là do tạng thận hư yếu, bởi thận tàng tinh và sinh tinh.Thận vừa tàng chứa tinh của ngũ tạng và tinh sinh dục Do vậy, bài thuốc phải giúp bổ thận, tráng dương, sinh tinh. Danh y Hải Thượng Lãn Ông có nói: “Người thầy thuốc giỏi chữa bệnh không có con, về  phía con trai thì nói là ở chủ tinh, về phía gái nói chủ ở huyết. Bàn luận lập phương thuốc: phía trai  thì lấy bổ thận làm cốt, phía gái điều kinh làm đầu, lại tham khảo thêm những thuyết bổ khí, hành khí, xét lại thật thấu suốt có thể thụ thai được”.

 

Bài thuốc chữa vô sinh do biến chứng quai bị 1Nhục thung dung có vị ngọt, mặn, tính ấm

Cụ thể bài thuốc chữa vô sinh nam :

 

Bài1: nhục thung dung 200g, thục địa 100g, huỳnh tinh 100g, kỷ tử 50g, sinh địa 50g, dâm dương hoắc 50g, hắc táo nhân 40g, quy đầu 50g, xuyên khung 30g, cam cúc hoa 30g, cốt toái bổ 40g, xuyên ngưu tất 40g, xuyên tục đoạn 40g, nhân sâm 40g, hoàng kỳ 50g, phòng đảng sâm 50g, đỗ trọng 50g, đơn sâm 40g, trần bì 20g, đại táo 30 quả, lộc giác giao 40g, lộc nhung 20g.

 Trong đó: thục địa, nhục thung dung, huỳnh tinh, kỷ tử: bổ thận sinh tinh; lộc nhung, lộc giác giao: bổ tinh huyết; nhân sâm, đảng sâm, hoàng kỳ, đan sâm: bổ khí, tăng cường sức khỏe; đương quy, xuyên khung: dưỡng huyết; sinh địa, táo nhân: dưỡng huyết, an thần. Các vị thuốc khác có tác dụng hỗ trợ bổ thận cường dương, sinh  tinh huyết. Bài thuốc này còn chữa bệnh rối loạn dương cương, liệt dương, yếu sinh lý rất hay.  Thuốc này dùng để ngâm rượu uống.

Bài 2: hoàng kỳ 400g, đương quy 240g, thạch hộc 240g, nhân sâm 200g, thỏ ty tử 200g, nhục thung dung 200g, mạch môn 160g, hoài sơn 160g, đỗ trọng 160g, sơn thù 160g, kỷ tử 160g, tỏa dương 160g, sa uyển tật lê 160g, xuyên tục đoạn 120g, xuyên ba kích 120g, ngũ vị tử 80g, hồ lô ba 640g, hồ đào nhục 480g, cật dê 12 cái, cật heo 12 cái.

Cật dê và cật heo hấp chín thái mỏng phơi thật khô, tất cả các vị đều tán bột, dùng mật thắng thành châu làm hoàn mỗi hoàn 10g, ngày uống từ 3 - 4 hoàn.

Trong đó: hoàng kỳ, nhân sâm bổ khí tăng cường sinh lực; thỏ ty tử, nhục thung dung, kỷ tử, tỏa dương, ba kích bổ thận cường dương sinh tinh; thạch hộc, sơn thù, ngũ vị tử, hồ lô ba, hồ đào nhục, xuyên tục đoạn bổ thận âm nuôi dưỡng tinh huyết; mạch môn, sa uyển tật lê dưỡng phế sinh tân dịch.cật dê, cật heo kích thích sinh tinh.

Bài 3: hai bài trên uống chung với bài Cố bản thập bổ hoàn của Hải Thượng Lãn Ông, thục địa 320g, hoài sơn 240g, sơn thù 200g, phục linh 160g, ngưu tất 120g, đỗ trọng 120g, ngũ vị tử 48g, phụ tử 60g, nhục quế 60g, lộc nhung 100g.

Bài thuốc này làm hoàn mềm uống chung với một trong hai bài thuốc trên thì bổ thận sinh tinh đạt hiệu quả rất cao.

Tôi dùng 3 bài thuốc trên chữa cho những cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn nhiều năm, bị bệnh quai bị tinh hoàn teo 1 bên hay là tinh hoàn không teo nhỏ, tinh trùng rất ít, tiến tới bằng không, có trường hợp không có tinh trùng đều có hiệu quả. Điển hình nổi tiếng nhất là cặp vợ chồng là giáo viên ở xã Chánh Hội, huyện Mang Thít, Vĩnh Long cưới nhau 6 năm không có con, chồng bệnh quai bị không có tinh trùng, sau khi uống thuốc 1 tháng đi xét nghiệm lại có tinh trùng, sau đó uống thêm gần 1 tháng nữa vợ có thai và hiện nay bé gái sắp 1 tuổi rất xinh xắn và khỏe mạnh. còn rất nhiều trường hợp bệnh quai bị tinh hoàn không teo hết, sau khi uống thuốc từ 1 - 2 tháng đi xét nghiệm lại đều có tinh trùng.

Trong đó, một vài vị thuốc đáng lưu ý nhất có thể kể: nhục thung dung và nhân sâm. Đây là 2 vị hầu như không thể thiếu trong vô sinh nam. Nhục thung dung là vị thuốc đã được sử dụng trong Đông y từ 2.000 năm trước và đã được đưa vào trong sách Thần Nông bản thảo, bộ sách thuốc cổ nhất của Đông y học. Vị thuốc còn có những tên khác, như: địa tinh (nghĩa là tinh chất của đất), kim duẩn (cây măng vàng), đại vân, hắc tư lệnh (vì có tác dụng bổ thận mạnh). Theo Đông y, nhục thung dung có vị ngọt, mặn, tính ấm; vào 2 kinh thận, đại tràng; có tác dụng bổ thận, ích tinh, nhuận táo, hoạt tràng. Chủ trị nam giới liệt dương (dương nuy), nữ giới không có thai, đới hạ (nhiều khí hư), băng lậu, lưng gối lạnh đau, cơ bắp không có sức, huyết khô tiện bí (táo bón do huyết khô). Các kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, hàm lượng hoạt chất sinh học trong nhục thung dung rất phong phú,  có tác dụng như một loại hoóc-môn sinh dục, có khả năng kích thích và điều tiết hoạt động của tuyến thượng thận.

Trong khi đó, nhân sâm đại bổ nguyên khí, bổ tỳ ích phế, chỉ khát, an thần, tăng trí. Chủ trị các chứng tỳ khí, phế khí hư nhược, tân dịch tổn thương, chứng tiêu khát, khí huyết hư suy, thần chí rối loạn, dương nuy…

Một số điều cần  lưu ý

Qua kinh nghiệm lâm sàng cho thấy, người bệnh dùng thuốc cần tuân thủ những điều sau:

- Uống thuốc điều độ theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Thông thường thuốc có tác dụng sau nửa liệu trình, khoảng 1 tháng, nhưng nên kiên trì dùng hết thang thuốc rượu thì kết quả sẽ tốt hơn vì chất lượng tinh trùng tốt hơn.

- Trong thời gian chữa bệnh cần sống điều độ, hạn chế tối đa việc uống rượu bia, hút thuốc lá, nếu được bỏ hẳn. Hạn chế sử dụng thuốc kháng sinh.

Nếu có điều kiện nên đi làm lại tinh dịch đồ để thấy hiệu quả của việc uống thuốc như thế nào, số lượng có tăng không, độ di động như thế nào…

NGUYỄN HƯNG (ghi)

/* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}

Hiếm muộn nam

Phẫu thuật để điều trị

Vũ khí "độc" của "cánh" nam khoa chính là vi phẫu thuật để điều trị các trường hợp vô sinh do tắc ống dẫn tinh, tắc ống mào tinh, giãn tĩnh mạch tinh... Phương pháp này nhằm giúp người bệnh có tinh trùng trở lại hoặc tinh trùng từ "yếu yếu, xìu xìu" thành "khỏe mạnh, cường tráng". Mục đích điều trị của nam khoa là khi hết bệnh, người chồng sẽ có con bình thường như những người bình thường khác. Mục đích thứ hai là, nếu người chồng không thể (hay quá khó) có con tự nhiên, cần phải làm thụ tinh trong ống nghiệm, thì bên nam khoa sẽ chịu trách nhiệm cung cấp nguồn tinh trùng cho bên hiếm muộn.

Dưới đây là những thông tin cập nhật từ Hội Y học sinh sản Hoa Kỳ - tổ chức hoạt động của các bác sĩ chuyên về hỗ trợ sinh sản, thụ tinh trong ống nghiệm (còn tổ chức hoạt động của các bác sĩ phẫu thuật vô sinh nam là Hội Tiết niệu Hoa Kỳ).

Khả năng thành công của vi phẫu thuật nối ống dẫn tinh với mào tinh là 84% và 42% bệnh nhân có con tự nhiên sau mổ.

Khả năng thành công của vi phẫu thuật nối ống dẫn tinh là 85-90% và 50-70% bệnh nhân có con tự nhiên.

Trường hợp tắc ống phóng tinh, sau mổ cắt đốt nội soi ống phóng tinh, 50-75% bệnh nhân có tinh trùng lại và khoảng 20% trong số này có con tự nhiên.

Sau mổ giãn tĩnh mạch tinh, hơn 2/3 trường hợp có tinh dịch đồ cải thiện, trong đó 30-50% có con tự nhiên.

Hiếm muộn nam - Chữa cách gì? 1 Thụ tinh trong ống nghiệm. Ảnh: N Phương

Nên chọn phương pháp điều trị nào?

Trong thực tế, có những trường hợp bệnh nhân chỉ có một lựa chọn duy nhất (hoặc thụ tinh ống nghiệm hoặc phẫu thuật) để có con. Ví dụ: nếu bệnh nhân bị vô sinh do bất sản ống dẫn tinh hai bên bẩm sinh thì chỉ có thể có con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng được trích từ tinh hoàn hay mào tinh; còn nếu bệnh nhân bị vô sinh không tinh trùng do giãn tĩnh mạch tinh hay hai tinh hoàn ẩn trong bụng thì bắt buộc phải nhờ cậy đến bàn tay khéo léo của các bác sĩ nam khoa. Các trường hợp khác như vô sinh do tắc ống dẫn tinh, tinh trùng yếu do giãn tĩnh mạch tinh... thì cả hai biện pháp điều trị này đều có thể áp dụng được. Tuy nhiên, khi người bệnh tới một nơi chuyên về phẫu thuật thì thường được khuyên: "Mổ đi!", còn nếu họ tới nơi chuyên về ICSI thì lại được tư vấn: "Phải thụ tinh thôi, hình dạng bình thường thấp quá như thế này làm sao có con được, mổ thành công thấp lắm!". Đứng giữa "ngã ba đường", bệnh nhân sẽ vô cùng bối rối, biết đi đường nào đây?

Theo khuyến cáo của Hội Y học sinh sản Hoa Kỳ, các cặp vợ chồng điều trị hiếm muộn cần được hướng dẫn đầy đủ về các biện pháp điều trị để có con. Vi phẫu thuật nối ống dẫn tinh hay nối ống dẫn tinh với mào tinh nên được ưu tiên chọn (chứ không phải thụ tinh trong ống nghiệm) nếu như người chồng bị tắc ống dẫn tinh nhưng vẫn có thể nối được. Mặt khác, cái lợi của phẫu thuật so với thụ tinh trong ống nghiệm là ít tốn kém hơn. Ngay cả khi mổ nối thất bại thì mổ nối thêm lần nữa vẫn tốt hơn là làm ICSI. Nếu bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch tinh thì mổ rất ít nguy cơ và bệnh nhân có thể có con tự nhiên.

TS.BS. Nguyễn Thành Như

Chlamydia trachomatis

Chlamydia tracomatis là một loại vi khuẩn. Nhiễm khuẩn Chlamydia là chứng bệnh dễ gặp trong các viêm nhiễm phụ khoa. Ngoài việc gây ra các khó chịu do viêm nhiễm tại chỗ, Chlamydia còn ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe sinh sản.

Cách thức lây truyền Chlamydia tương tự như bệnh lậu, tức là chỉ lây truyền qua giao hợp không bảo vệ, theo mọi hình thức (âm đạo, hậu môn, miệng). Ngoài ra, chúng còn có thể lây truyền từ mẹ sang con khi sinh thường. Chlamydia còn có thể gây bệnh ở trực tràng, kết mạc mắt, gan, mô mềm.

Có ít nhất 50% trường hợp nhiễm Chlamydia không có biểu hiện gì đặc biệt, dễ bỏ qua, nhưng luôn có khả năng lây nhiễm cho bạn tình. Thời gian ủ bệnh khoảng 5 - 15 ngày. Các biểu hiện dễ nhận ra khi nhiễm Chlamydia là:

Ở phụ nữ: Buốt khi đi tiểu, hoặc muốn đi tiểu nhiều lần; âm đạo tiết dịch bất thường, ngứa hay rát; đau bụng hoặc đau khi quan hệ tình dục; đau nhiều khi có kinh.

Ở nam giới: Dương vật tiết dịch hơi trắng hay vàng; bỏng rát khi tiểu; rát và ngứa quanh bao quy đầu; đau ở hậu môn hay tinh hoàn hoặc lúc xuất tinh.

Chlamydia còn là nguyên nhân gây bệnh u hạch bạch huyết hoa liễu, biểu hiện là phù nề các bộ phận sinh dục ngoài, sưng đau hạch bẹn.

Nhiễm Chlamydia và những biến chứng

Ở phụ nữ, nhiễm Chlamydia được xem là nguyên nhân chính gây viêm cổ tử cung xuất tiết. Từ đây, Chlamydia có thể đi vào niệu đạo gây viêm niệu đạo, đi ngược lên  đường sinh dục gây bệnh lý vùng chậu mà hậu quả có thể là thai ngoài tử cung hoặc vô sinh. Trong thai kỳ, Chlamydia có thể gây vỡ ối non, nhiễm khuẩn ối, sinh non, nhiễm khuẩn hậu sản và nhiễm Chlamydia cho trẻ sơ sinh. Về lâu dài, nhiễm đồng thời Chlamydia và HPV - một loại virut dễ có khả năng đưa đến ung thư cổ tử cung.

Ở nam giới, biến chứng chủ yếu do nhiễm Chlamydia là viêm tinh hoàn và viêm mào tinh hoàn, do đó có thể gây vô sinh. Một số nghiên cứu đang xem xét ảnh hưởng của Chlamydia lên chất lượng tinh trùng.

Chlamydia có thể điều trị dứt điểm dễ dàng bằng nhiều loại kháng sinh như azithromycin, doxycyclin, erythromycin hay ofloxacin. Thế nhưng một khi nhiễm Chlamydia đã có biến chứng thì việc chữa trị sẽ rất khó khăn và tốn kém, đặc biệt với tổn thương ống dẫn trứng do Chlamydia trong điều trị vô sinh. Do vậy, phòng bệnh vẫn là biện pháp chủ đạo. Cần giữ vệ sinh bộ phận sinh dục sạch sẽ, quan hệ tình dục an toàn (một vợ một chồng, dùng bao cao su), nên đi khám phụ khoa 2 lần/năm để tầm soát bệnh. Khi có những dấu hiệu khác lạ ở cơ quan sinh dục cần đi khám chuyên khoa để được điều trị sớm nhất, tránh các biến chứng.      

BS. Hà Hạnh

Phá cố chỉ chữa di tinh, liệt dương

Phá cố chỉ thuộc họ đậu, tên khác là bổ cốt chí, đậu miêu là 1 cây nhỏ sống hàng năm. Thân có cạnh và lông nhỏ. Lá kép, mọc so le. Cụm hoa là bông dạng chùy, hoa màu hồng hoặc tím nhạt. Quả đậu ngắn màu đen, hạt hình thận màu nâu đen.

Phá cố chỉ chữa di tinh, liệt dương 1 Hạt phá cố chỉ.
Bộ phận dùng làm thuốc của phá cố chỉ là hạt, thu hái vào mùa thu ở quả chín, phơi khô, dùng sống hoặc chế biến như sau: Phá cố chỉ sao: lấy hạt phá cố chỉ sao nhỏ lửa đến khi có mùi thơm. Phá cố chỉ chích muối: cho phá cố chỉ (10kg) vào nước muối (0,2kg) trộn đều. Để một giờ cho hạt đậu ngậm hết nước muối rồi sao nhỏ lửa cho phồng. Có thể trước khi cho ngậm nước muối, ngâm hạt với rượu rồi với nước trong 12 giờ, vớt ra, phơi khô rồi mới tẩm muối. Phá cố chỉ chích rượu: ngâm phá cố chỉ (10kg) trong rượu (2 lít), để 1 giờ cho hút hết rượu rồi sao nhỏ lửa cho đến khi có mùi thơm.

Trong y học cổ truyền, hạt phá cố chỉ có vị đắng, vị cay, mùi thơm hắc, tính nóng, có tác dụng bổ thận, tráng dương, chỉ thống, tán ứ, làm se, rất tốt cho người già yếu, đau lưng; cho nam giới mỏi gối, di tinh, liệt dương; cho phụ nữ kinh nguyệt không đều, khí hư.

Liều dùng hằng ngày 4-12g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột hoặc viên hoàn.

Thường phối hợp với các vị thuốc khác trong các trường hợp sau:

Chữa liệt dương: phá cố chỉ, thỏ ty tử, hồ đào nhục, mỗi vị 9g, trầm hương 2g. Tất cả tán bột, rây mịn, trộn với mật ong làm viên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 9-18g với nước muỗi loãng.

Hoặc phá cố chỉ, hà thủ ô đỏ, trâu cổ, kỳ tử mỗi vị 40g, liên nhục 20g, cao ban long, thục địa, mỗi vị 16g; quế 10g. Tất cả tán bột, làm viên. Ngày uống 20-40g.

Chữa di tinh, tiểu són, tiểu không tự chủ: phá cố chỉ 12g, nhân hạt máu chó, đương qui, ba kích, thục địa tẩm rượu sao, mỗi vị 10g; hồi hương, nhục quế, mỗi vị 16g. Tán bột mịn, làm viên, uống mỗi ngày 20-30g. Hoặc phá cố chỉ 12g; liên nhục 16g; sừng nai, ba kích, thỏ ty tử, hoàng tinh, hoài sơn, mỗi vị 10g. Tán bột uống 30g mỗi ngày hoặc sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa thận hư, tỳ vị kém, lưng gối lạnh đau, kinh bế, lỵ lâu ngày không khỏi: phá cố chỉ 30g, nhục đậu khấu 30g. Tán bột, trộn với hồ được chế từ gừng và đại táo, làm thành viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g.

Chữa tiểu tiện ít, tiểu tiện khó: phá cố chỉ, phụ tử chế, nhục thung dung, thục địa, đương qui, mỗi vị 12g; lộc nhung, trầm hương, mỗi vị 4g; xạ hương 0,4g. Tất cả tán bột làm viên uống mỗi ngày 5-10g.

Hoặc phá cố chỉ 12g, hoài sơn 16g, thục địa, ngưu tất, khiếm thục, kim anh, mỗi vị 12g; trạch tả, phục linh, phụ tử chế, tang phiêu diêu, mỗi vị 8g; nhục quế 4g, sắc uống ngày 1 thang.

Chữa đau bụng sau khi hành kinh: phá cố chỉ 8g, thỏ ty tử, ngưu tất, mỗi vị 12g; ba kích, bạch thược, thục địa, đương qui, a giao, mỗi vị 8g sắc uống.

Chữa động thai ra máu: phá cố chỉ 8g, đản sâm 16g, bạch truật, đỗ trọng, tục đoạn, mỗi vị 12g; thỏ ty tử, ích chí nhân mỗi vị 18g, sắc uống.Chữa tiêu chảy mạn tính: phá cố chỉ, thỏ ty tử, nụ sim, trần bì, mỗi vị 20g; vỏ rộp ổi, vỏ quả lựu, hoắc hương, mỗi vị 12g; gừng khô 8g; quế 6g. Tán nhỏ, mỗi ngày uống 8g.

  DS. Đỗ Huy Bích

 

Chế độ ăn cho tuổi dậy thì

Khi trẻ bước vào giai đoạn dậy thì mỗi ngày cần 2.200 - 2.400 calo, tương đương với lượng ăn của người trưởng thành. Nếu không cung cấp đúng và đủ trẻ sẽ bị thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến chậm hoàn thiện và phát triển các bộ phận cơ thể.

Dậy thì là lúc trẻ phát triển mạnh, nhanh về thể lực, sự thay đổi của hệ thần kinh, nội tiết mà nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục tăng lên gây ra những biến đổi về hình thức và sự tăng trưởng của cơ thể trẻ. Lúc này, ngoài sự phát triển và hoàn thiện cơ thể cũng là lúc trẻ hoạt động nhiều nhất, nên cần phải có một chế độ dinh dưỡng thật tốt cho trẻ ở giai đoạn này.

Chế độ ăn cho tuổi dậy thì 1Thức ăn chứa nhiều đạm động vật rất cần cho lứa tuổi dậy thì.         Ảnh: MH
Chất đạm: Trẻ dậy thì cơ bắp giai đoạn này phát triển nên lượng đạm cần cao hơn người trưởng thành. Chất đạm chiếm 14 - 15% tổng số năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày. Lượng đạm lấy từ thực phẩm như thịt, cá, tôm, cua, trứng sữa… Trong đó đạm động vật là tốt nhất vì thức ăn có nguồn gốc động vật chứa nhiều sắt - chất sắt có vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu.

Chất béo: Dầu, mỡ không chỉ giúp trẻ ăn ngon miệng mà còn là nguồn cung cấp năng lượng tốt và giúp cơ thể hấp thu các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Ở giai đoạn này cần cả chất béo no có trong thức ăn chứa nhiều đạm động vật và chất béo không no trong dầu ăn và cá, nên cho trẻ ăn cả mỡ động vật và dầu thực vật, khoảng 40 - 50gr mỗi ngày.

Chất bột: Là chất cung cấp năng lượng chính cho cơ thể chiếm 60 - 70% năng lượng có trong gạo, bột mì, và sản phẩm chế biến, khoai, củ… Nên chọn lựa những loại bột đường thô để cung cấp chất xơ tốt cho đường tiêu hóa và phòng chống béo phì.

Can xi: Can xi rất cần thiết cho lứa tuổi dậy thì, nếu được cung cấp đủ sẽ giúp xương chắc khỏe và độ đậm xương đạt mức tối đa giúp trẻ phát triển tốt về chiều cao và phòng được bệnh loãng xương sau này. Mỗi ngày trẻ cần 1.000 - 1.200mg can xi. Can xi có nhiều trong sữa, cả sữa bò và sữa đậu nành, các loại thủy sản, xương cá (nên kho nhừ cá để có thể ăn cả xương). Nên uống 400 -500ml sữa/ ngày.

Chất sắt: Bé gái khi bước vào tuổi dậy  thì cần lượng sắt nhiều hơn bé trai do mất máu trong chu kỳ kinh nguyệt. Nên bé trai chỉ cần 12 - 18 mg sắt/ngày trong đó bé gái cần tới 20 mg sắt/ngày. Chất sắt có nhiều trong thịt, phủ tạng động vật: gan, tim, bầu dục..., lòng đỏ trứng, đậu đỗ, rau xanh có nhiều vitamin C giúp hấp thu sắt tốt hơn… Nếu thiếu sắt trẻ sẽ bị thiếu máu gây ra các triệu chứng mệt mỏi, hay quên, buồn ngủ, da xanh…

Các vitamin: Đây là những vi chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp và đường tiêu hóa; chậm phát triển chiều cao. Khi thiếu vitamin C, quá trình tổng hợp collagen gặp trở ngại, làm giảm quá trình hình thành tế bào ở các thành mạch, mô liên kết, xương, răng, giảm sức đề kháng.

Bác sĩ Thanh Hà